Vlt031 Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ Phẩm 1 Pháp Hội Thánh Chúng Thích Thiện Trang MP3 Free Download

  • Thích Thiện Trang
  • 09 August 2020
  • 530x plays

Download VLT031- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 1: Pháp Hội Thánh Chúng - Thích Thiện Trang MP3 music file at 320kbps audio quality. VLT031- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 1: Pháp Hội Thánh Chúng - Thích Thiện Trang music file uploaded on 09 August 2020 by Thích Thiện Trang.

  • Play
  • Stop it

Vlt031 Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ Phẩm 1 Pháp Hội Thánh Chúng Thích Thiện Trang

VLT031- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 1: Pháp Hội Thánh Chúng - Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 09 August 2020
  • 530x plays

VLT046- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - Buổi 1 - Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 15 November 2020
  • 524x plays

VLT030- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Mở Đầu: Lời Tựa & Đề Kinh - Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 02 August 2020
  • 476x plays

VLT013 - Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 37: Như Bần Đắc Bảo - Buổi 1- Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 23 February 2020
  • 426x plays

VLT033- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 2: Đức Tuân Phổ Hiền - buổi 2 - Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 16 August 2020
  • 725x plays

VLT034- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 2: Đức Tuân Phổ Hiền - buổi 3 - Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 17 August 2020
  • 450x plays

VLT001- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 33 - Buổi 1 - Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 29 October 2019
  • 1,061x plays

VLT038- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 4: Pháp Tạng Nhân Địa - Buổi 1 - Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 13 September 2020
  • 432x plays

VLT036- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 2: Đức Tuân Phổ Hiền - buổi 5 - Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 30 August 2020
  • 431x plays

VLT029- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 48: Văn Kinh Hoạch Ích - Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 26 July 2020
  • 312x plays

VLT056- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 7: Tất Thành Chánh Giác - Buổi 1up lại

  • Thích Thiện Trang
  • 16 January 2021
Thầy Thích Thiện Trang chia sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 7: Tất Thành Chánh Giác (Nhất Định Thà ...

Đọc Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ

  • thuykhuongtang
  • 12 July 2014
...

VLT044- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 5: Chí Tâm Tinh Tấn - Buổi 2 - Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 31 October 2020
Thầy Thích Thiện Trang chia sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 5: Chí Tâm Tinh Tấn - buổi 2- ngày 31/10/2 ...

VLT054- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - Buổi 9

  • Thích Thiện Trang
  • 02 January 2021
Thầy Thích Thiện Trang chia sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - buổi 9- ngày ...

VLT046- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - Buổi 1 - Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 14 November 2020
Thầy Thích Thiện Trang chia sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - buổi 1- ngày ...

VLT050- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - Buổi 5

  • Thích Thiện Trang
  • 12 December 2020
Thầy Thích Thiện Trang chia sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - buổi 5- ngày ...

Tụng Kinh Vô Lượng Thọ Phẩm 6 Tụng Buổi Sáng

  • ĐĐ Thích Giác Nhàn
  • 30 August 2014
Pháp Sư Thích Giác Nhàn chuyên hoằng truyền pháp môn tịnh độ và hướng dẫn phật tử chuyên tu ...

VLT047- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - Buổi 2 - Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 21 November 2020
Thầy Thích Thiện Trang chia sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - buổi 2- ngày ...

VLT048- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - Buổi 3 - Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 28 November 2020
Thầy Thích Thiện Trang chia sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - buổi 3- ngày ...

VLT051- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - Buổi 6

  • Thích Thiện Trang
  • 19 December 2020
Thầy Thích Thiện Trang chia sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - buổi 6- ngày ...

VLT043- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 5: Chí Tâm Tinh Tấn - Buổi 1 - Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 24 October 2020
Thầy Thích Thiện Trang chia sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 5: Chí Tâm Tinh Tấn - buổi 1- ngày 24/10/2 ...

Kinh Vô Lượng Thọ - DieuPhapAm.Net

  • nhanqualuanhoi
  • 24 December 2011
Kinh Vô Lượng Thọ - DieuPhapAm.Net ...

VLT052- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - Buổi 7

  • Thích Thiện Trang
  • 26 December 2020
Thầy Thích Thiện Trang chia sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - buổi 7- ngày ...

VLT055- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - Buổi 10

  • Thích Thiện Trang
  • 09 January 2021
Thầy Thích Thiện Trang chia sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - buổi 10- ngày ...

Phật Thuyết Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật

  • ADiDaPhat Amitabha
  • 20 February 2013
Xem Phim Hoạt Hình Phật Giáo khác ( Click đây ) : http://www.youtube.com/playlist?list=PLFp-TCPxl7gvH_OXdhO4q4Y ...

VLT045- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 5: Chí Tâm Tinh Tấn - Buổi 3 - Thích Thiện Trang

  • Thích Thiện Trang
  • 07 November 2020
Thầy Thích Thiện Trang chia sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 5: Chí Tâm Tinh Tấn - buổi 3- ngày 07/11/2 ...

Tụng Kinh Vô Lượng Thọ Toàn phần - Thích Trí Thoát Có chữ để tụng theo

  • An Võ Văn
  • 02 May 2013
Phần niệm Phật 6 chữ : " Nam Mô A Di Đà Phật ". Phiên bản cập nhật ngày 3.5.2013 có Ghi Chú 48 Ng ...

VLT053- Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - Buổi 8

  • Thích Thiện Trang
  • 30 December 2020
Thầy Thích Thiện Trang chia sẻ Kinh Vô Lượng Thọ - Phẩm 6: Phát Đại Thệ Nguyện - buổi 8- ngày ...

Cuộc đời đức Phật Thích Ca - ĐĐ Thích Thiện Trang Nhạc Thơ -Cải Lương Rất Hay

  • thichcamauniphat
  • 02 September 2013
Cuộc đời đức Phật Thích Ca - ĐĐ TT Thích Thiện Trang ...

Tụng Kinh Vô Lượng Thọ Toàn phần - Thích Trí Thoát Có chữ để tụng theo - Niệm Phật 4 chữ

  • An Võ Văn
  • 21 October 2012
Phần niệm Phật 4 chữ : " A Di Đà Phật " Tụng Kinh Vô Lượng Thọ ( Toàn phần ) với giọng tụng ...

Public Response On Vlt031 Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ Phẩm 1 Pháp Hội Thánh Chúng Thích Thiện Trang

Van Doan10 Months ago
NAM MO A DI DA PHAT.NAM MO A DI DA PHAT.NAM MO A DI DA PHAT. CON XIN TRI AN CUNG KINH DANH LE THAY THICH THIEN TRANG.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
Nam Mô A Mi Đà Phật! “Như vậy Pháp môn này là đệ nhất, tu theo bộ Kinh này là trí huệ đệ nhất, thần thông đệ nhất, thiền định cao nhất, ngoài ra được thông suốt hết tất cả các Kinh điển. Cho nên một Kinh này là đủ rồi. Ngay phẩm 1 này đã nói lên điều đó rồi. Quý vị chỉ cần nghe đoạn này thôi đã tinh tấn hơn rồi. Chỉ cần học một đoạn thôi là thông hết các đoạn còn lại. Một môn thâm nhập trường kỳ huân tu. Nhất hạnh đây gọi là nhất hạnh tam-muội. Niệm Phật là thiền định tối cao”. –Cuộc đời này cho đến mãi mãi về sau, con sẽ luôn học tập và hoằng dương Kinh Vô Lượng Thọ, cho đến khi thành Phật con cũng sẽ nối tiếp sứ mạng của Như Lai, tuyên thuyết Kinh Vô Lượng Thọ cho vô lượng chúng sanh, ở vô lượng thế giới - bộ Kinh duy nhất có thể độ thoát kẻ phàm phu nghiệp dày một đời liễu thoát sanh tử luân hồi. Kính chuyển đến chư vị hữu duyên phần ghi chép tóm lược lại bài giảng Kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác – Pháp Hội Thánh Chúng -Đệ Nhất(Thánh Chúng Dự Pháp Hội – Phẩm Thứ Nhất) Giảng giải: Thầy Thích Thiện Trang Giảng ngày: 08.08.2020 Phát trực tiếp trên Kênh YouTube Thích Thiện Trang (Link YouTube tại đây: https://youtu.be/h8nIQXKc8LE) và mạng xã hội Facebook: Fanpage Thích Thiện Trang. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Nam Mô A Mi Đà Phật! Kính chào quý vị liên hữu đồng tu đang theo dõi thời pháp vào tối thứ bảy hàng tuần trên mạng xã hội Facebook (Fanpage Thích Thiện Trang) và kênh YouTube! Hôm nay là buổi thứ 31 Thiện Trang tiếp tục chia sẻ tâm đắc học tập Kinh Vô Lượng Thọ. Hôm nay chúng ta bắt đầu vào Phẩm thứ nhất Kinh Vô Lượng Thọ. Quý vị đã biết, vạn pháp do nhân duyên sanh, chia sẻ Phật pháp cũng là duyên. Mỗi người đều có một nhân duyên. Hôm nay chúng ta chia sẻ bộ Kinh này để tiếp tục làm hành trang một đời này ra khỏi sanh tử luân hồi, một đời này chúng ta về Tây Phương Cực Lạc. Tựa đề: 法會聖眾第一 Pháp Hội Thánh Chúng, Đệ Nhất Giải: # Pháp Hội Thánh Chúng:Thánh Chúng dự Pháp hội: Pháp là Phật pháp. Hội là Đại hội Phật pháp. Hòa thương Tịnh Không chú giải: Pháp hội là Đại hội giảng Kinh thuyết pháp của đức Phật Thích Ca Mâu Mi. Thánh chúng là những người chứng quả vị thánh (Thanh Văn, Bồ Tát v.v…) mà đang dự trong pháp hội này. Chúng là đại chúng thông thường chưa chứng quả. Pháp Hội Thánh Chúng là kể ra những người thường, những vị A-la-hán, Bồ Tát dự pháp hội của đức Phật Thích Ca Mâu Mi giảng Kinh Vô Lượng Thọ. # Đệ Nhất: phẩm thứ nhất
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
Hòa Thượng chú giải: Kinh văn Phẩm này là nói rõ Thánh chúng thù thắng đích thân tham gia Đại hội giảng Kinh thuyết Pháp của Thích Ca Mâu Mi Phật. Đoạn thứ nhất: Kinh văn: 如是我聞。一時佛在王舍城耆闍崛山中, Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại Vương Xá thành Kỳ Xà Quật sơn trung, 與大比丘眾萬二千人俱。 dữ đại Tỳ-kheo chúng vạn nhị thiên nhân câu. 一切大聖,神通已達。 Nhất thiết đại thánh, thần thông dĩ đạt. Giải: # Như thị: chữ “như” này đã có một vị Tổ sư giảng hết 9 ngày. Tất cả Phật pháp quy về 2 chữ như thị, nói gọn lại là chữ như. Lần trước Thiện Trang đã giới thiệu với quý vị bài kệ của một vị Thiền-sư Việt Nam – Thiền Sư Phước Hậu “Kinh điển lưu truyền tám vạn tư Học nhiều chẳng thiếu cũng chẳng dư Đến nay nghĩ lại đà quên hết Chỉ nhớ trong đầu một chữ như”. Triển khai tất cả Phật pháp đều nằm trong chữ “như” đó. Tất cả Phật pháp gom lại là căn bản Pháp-luân của Thích Ca Mâu Ni Phật, là căn bản Kinh Hoa Nghiêm. Nếu như nói Giáo-pháp của Phật như một cây lớn có hoa, lá, cành… thì Kinh Hoa Nghiêm như là thân cây. Các kinh điển còn lại là cành nhánh của cây. Kinh Vô Lượng Thọ là cốt lõi của cây đó, tức là quy kết của Kinh Hoa Nghiêm. Hòa thượng chú giải: Như là từ đại biểu cho chân tướng sự thật. Tất cả vũ trụ nhân sanh, ví dụ như con người từ đâu đến v.v…, đều có một sự thật. Sự thật đó là Chân Như, tức là như, là thật tướng. Con người từ đâu mà đến, chúng ta từ đâu mà đến, là từ Chân Như, Tự-tánh mà đến. Tức là từ Thường-tịch-quang. Vì một niệm vô minh nên sanh ra Thập-pháp-giới. Từ Thập-pháp-giới lại có phân biệt, chấp trước và trần sa, nên có sáu cõi luân hồi. Cho nên chữ như này quá sâu, quá khó hiểu. Ở đây chúng ta chỉ nói về chữ như trong Kinh này, nói về sự thật trong Kinh này. Sự thật trong Kinh này nói để chúng ta trở về con đường giải thoát, trở về Chân Như, tự-tánh. Trở về con đường đó bằng cách niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc. Đó là chữ như đơn giản nhất. Thực ra nói 9 ngày (như vị Tổ đó) hay nói hết cả đời cũng không nói hết được chữ như. Nói ngắn gọn là chữ như đại biểu cho chân tướng sự thật. Chữ “thị” nghĩa là dựa vào chân tướng sự thật mà thuyết giảng. Tức là những điều Phật nói ra trong Kinh này là căn cứ vào chân tướng sự thật. Kinh Vô Lượng Thọ nói toàn là sự thật. Cho nên là “như thị” là nói đúng theo sự thật của Chân Như.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
# ngã văn:Chữ ngã là Tôn giả A Nan tự xưng. Hòa thượng chú giải: Ngã là tự xưng của Tôn giả A Nan. Khi kết tập Kinh điển lần thứ nhất tại hang Thất-diệp, Tôn giả A Nan có trách nhiệm trùng tuyên lại Kinh tạng. Ngài A Nan sau khi chứng quả A-la-hán bay vào trong hang động. 499 vị A-la-hán khác đang chờ ngài A Nan. Vì ngài A Nan là người nghe hết tất cả các bài Pháp của Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài A Nan xuất gia sau, nhưng ngài khi ngài chấp nhận làm thị-giả cho Phật có đưa ra mấy điều kiện, trong đó có một điều kiện là tất cả những gì Phật đã thuyết, phải thuyết lại cho ngài nghe, để sau này trùng tuyên lại. Khi ngài A Nan lên đài thì xưng là “như thị ngã văn”. Câu đầu tiên là “như thị ngã văn”, chúng ta dịch là “tôi nghe như vầy”. Chữ ngã đó được xưng do ba điều nghi. Điều nghi thứ nhất là khi ngài A Nan lên đài thì được chư Phật gia trì nên ngài có tướng rất đẹp, hào quang rực rỡ, nên đại chúng trong hội trùng tuyên đó nghi ngài A Nan đã thành Phật. Thứ hai là nghi đức Phật sống lại. Điều nghi thứ ba là nghi Phật từ phương khác đến. Cho nên khi ngài A Nan nói “như thị ngã văn” thì mọi người đều biết là A Nan chỉ thuật lại những gì ngài đã nghe được. Có một số Kinh như Kinh Tứ Thập Nhị Chương không có chữ này. Đó là bộ Kinh lần đầu tiên dược truyền tới Trung Hoa, hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan bỏ bớt đi câu “như thị ngã văn”, vì khó quá. Chữ “văn” là chỉ cho chính ngài A Nan được nghe Phật thuyết pháp, bây giờ ngài trùng tuyên lại. Lần này chỉ giảng đơn giản như vậy. Chữ như là toàn bộ Phật pháp. Ai có thể hiểu được chữ như làm theo được, thì người đó là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, căn cơ như Lục tổ Huệ Năng. Chúng ta chưa làm được, cho nên chúng ta đi con đường nhẹ nhàng là tiệm tu. Học giáo để lý giải được. Sau khi hiểu được rồi, thì chúng ta có được niềm tin. Có được niềm tin chúng ta sẽ thực hành được. Thực hành được thì sẽ chứng ngộ được. Đó là quy trình Tín, Giải, Hành, Chứng. Khi chúng ta chứng được, lại càng tăng thêm niềm tin. # nhất thời cũng có ý nghĩa rất sâu, thông thường chúng ta dịch là “một thuở nọ”. Hòa thượng chú giải là thời gian mà Phật thuyết giảng bộ Kinh này, cũng chính là lúc căn tánh cơ duyên thành Phật của chúng sanh đã chín muồi. Nhất thời không ghi năm tháng ngày giờ. Thời gian vốn không có thật. Đối với phàm phu chúng ta thì có thời gian, đối với thánh nhân không có thời gian. Cho nên nhất thời ở đây là vào thời điểm nào đó mà khi căn tánh của chúng sanh chín muồi, thì có thể nghe được bộ Kinh này. Ví dụ như chúng ta hiện nay, thính chúng chúng ta, có rất nhiều vị đều cơ duyên thành thục. Căn tánh là thiện căn, cơ duyên là thời cơ, nhân duyên đã thuần thục rồi, nên quý vị mới được nghe bộ Kinh này. Cho nên gọi là căn tánh chín muồi. Chứ không phải là Phật giảng vào một lúc nào đó thôi. Ví dụ như ngài Thiên Thai Trí Giả Đại sư, khi ngài tụng Kinh Pháp Hoa, ngài nhập định vẫn thấy được hội Linh Sơn. Tức là ở núi Linh Thứu đức Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn đang giảng Kinh thuyết pháp, hội Kinh Pháp Hoa vẫn chưa tan. Như mở đầu Kinh Pháp Hoa nói đến thời gian nhập định giảng Kinh, thính chúng thấy như là thời gian một bữa ăn, nhưng lại thực tế đã trải qua 60 tiểu kiếp. Đó là câu chuyện trong Kinh Pháp Hoa. Cho nên thời gian vốn là không thật. Chúng ta bị phân biệt làm cho cảm thấy thời gian đó là thật. Nếu quý vị đoạn được bốn tướng như trong Kinh Kim Cang nói: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng. Vô ngã tướng: ta không phải là ta, vô nhân tướng: không có người và ta, vô chúng sanh tướng: không có chúng sanh hữu tình và vô tình. Cuối cùng là điều mà Thiện Trang muốn nói đến là vô thọ giả tướng. Thọ ở đây không phải là cảm thọ, mà là thọ mạng, chính là thời gian. Quý vị xả được thời gian là chứng được Sơ-quả, như Kinh Kim Cang nói. Quý vị thấy khó không? Tiêu chuẩn của Kinh Kim Cang khá cao. Mình biết như vậy để làm sao khế nhập được Chân Như, khế nhập được nhất thời. Rất khó, phải tu lâu năm. Còn bây giờ chúng ta tu không nổi. Ví dụ như hai người ở thế gian có mối tình rất thâm sâu, họ nguyện chết cùng lúc, để tái sanh cùng lúc. Nhưng họ không biết rằng nghiệp dẫn mỗi người đi khác nhau. Chết có thể cùng lúc, nhưng tái sanh không chắc là cùng lúc. Vì sau khi chết rơi vào trạng thái, khoa học gọi là phi thời gian. Ví dụ như con tàu bị mất tích, thời gian sau lại xuất hiện lại.Mọi thứ trên tàu vẫn y nguyên, nhưng thực tế đã qua mấy chục năm. Đó là rơi vào trạng thái không gian khác, trạng thái không thời gian. Cho nên người chết trước lại có thể đi đầu thai sau. Đó là cảnh giới bất khả tư nghì nghiệp, không thể nghĩ bàn. Có Cư sĩ Minh Tâm (Điền Dũng Vương) đang dịch Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú mà Thiện Trang giảo, hỏi rằng, khi con đọc đến phẩm Nhập Pháp Giới Kinh Hoa Nghiêm, con có thắc mắc là Kinh Hoa Nghiêm giảng đầu tiên, sau khi đức Phật thành đạo nhập trong đại định mà thuyết, tại sao lúc đó lại có ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên, lúc thời điểm đó chưa được độ mà. Thiện Trang trả lời, thứ nhất là thời gian vốn không thật. Đây là nhất thời. Thời gian là không thật, chỉ là do vọng tình chấp của chúng sanh mà thôi. Khi chứng quả vị Thánh, như ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên sau khi chứng quả các ngài có thể nhập vào đại định, dự pháp hội đó không bị hạn chế về không gian và thời gian. Lý do thứ hai, các ngài đều là cổ Phật thị hiện, cho nên không có trở ngại gì. Quý vị coi trong Kinh Hoa Nghiêm hầu như các ngài đều có hết. Câu chuyện dễ hiểu hơn là câu chuyện về Ma Da Phu-nhân. Ma Da Phu-nhân, là mẹ của Thái tử Sĩ Đạt Đa. Sau khi sanh Thái tử được 7 ngày bà sanh lên cõi trời Đao-lợi. Khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni sắp nhập Niết Bàn, ngài lên cung trời Đao-lợi thuyết pháp độ mẹ chứng quả để trả ân hiếu. Bộ Kinh đầu tiên được ghi lại, là Kinh Ma Ha Ma Da – Phật Đăng Đao Lợi Thiên Vị Mẫu Thuyết Pháp (Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch sang chữ Hán vào thời Tiêu Tề). Kinh Địa Tạng là hội sau. Khi ngài lên trời Đao-lợi, với tư cách là một vị Phật ngài không thể đi tìm người thường, ngài sai ngài Văn Thù Sư Lợi mang đến cho Ma Gia Phu-nhân một bài kệ. Nghe xong bài kệ, Ma Gia Phu-nhân rất xúc động, bà đến gặp đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại cung trời Đao-lợi. Khi đức Phật thuyết pháp cho bà, bà liền chứng quả Tu-đà-hoàn. Bà nhớ lại quá khứ, có kiếp đã từng giàu sang quyền quý, hoặc có kiếp làm tôi đòi, hoặc có kiếp ra oai, hoặc có kiếp bị người ức hiếp, hoặc có kiếp bỏ thân nơi đồng hoang, hoặc có kiếp làm cô phụ (ế chồng), có kiếp lại đầm đề con cháu v.v…Thấy kiếp luân hồi quá khổ, bà hỏi đức Thế Tôn: tại sao chúng sanh khổ. Nghe như vậy chúng ta thấy Ma Gia Phu-nhân là phàm phu. Nhưng trong Kinh Hoa Nghiêm Ma Gia Phu-nhân là tham vấn thứ 41 của Thiện Tài Đồng-tử. Vị trí của bà không phải là người bình thường, bà đã chứng đến Thập-địa Bồ-tát là vị trí thứ 50. Trong Kinh nói: “Nhất Phật xuất thế, ngàn Phật hộ trì”. Cho nên Ma Gia Phu-nhân cũng đến thị hiện mà thôi.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
Thời gian không có thật, không gian cũng không có thật. Thiện Trang lấy ví dụ như sau. Trên màn hình điện thoại, quý vị đang coi một bộ phim luân hồi sanh tử, ở phút thứ ba mấy của buổi hôm nay. Quý vị có thể kéo lui lại hoặc kéo tiến lên đằng sau để coi. Cho nên thời gian và không gian chỉ hiển thị trên màn hình thôi. Không gian cũng vậy, chúng ta coi cảnh này, coi cảnh kia, nhưng đều là không thật. Con mắt của chúng ta cũng vậy, cũng như màn hình thôi. Chúng đưa cảnh giả vào nhưng chúng ta chấp là thật. Cho nên chúng ta mãi khổ đau, chìm đắm trong đó, nhưng mấy ai giác ngộ được điều đó. Thời gian là giả, mà chúng ta cho là thật, nên chúng ta đau khổ. Như vậy nhất thời là thời gian mà duyên hội ngộ đầy đủ để Phật thuyết Kinh này. Và chúng sanh khi căn tánh, thời cơ thành Phật đã chín muồi thì gặp được bộ Kinh này. Như chúng ta hôm nay đây cũng là nhất thời. Còn cụ thể thì Phật thuyết bộ Kinh này 5 lần. # Phật tại Vương Xá thành:Phật là Thích Ca Mâu Ni Phật. Thành Vương Xá là ở nước Ma Kiệt Đà, do vua Tần Bà Sa La trị vì, sau này là vua A Xà Thế. # Kỳ Xà Quật sơn trung: núi Linh Thứu, quả núi có hình con chim Thứu. Thực ra núi này nằm bên ngoài thành Vương Xá. # dữ đại Tỳ-kheo chúng: dữ là cùng với. Đại là sanh đại Giải (hiểu sâu về Phật pháp, về thật tướng vũ trụ nhân sanh), phá đại Ác (phá được tất cả phiền não), chứng đại Quả. Đây không phải là những người bình thường, đều là những người đã chứng quả. Tỳ-kheo là người xuất gia theo nhà Phật, thọ 250 giới, hay là cụ túc giới. Nam là Tỳ-kheo, nữ là Tỳ-kheo-ni. Chúnglà số nhiều. Hòa thượng chú giải Tỳ-kheo có 3 nghĩa: thứ nhất là khất-sĩ, khất thực dưỡng thân, khất pháp dưỡng tâm. (Tức là xin thức ăn để nuôi thân, xin Pháp để nuôi tâm. Người xin này là đặc biệt cao cấp, không phải người ăn xin bình thường. Trên xin giáo Pháp của Phật nuôi pháp thân huệ mạng, dưới là xin thức ăn của chúng sanh để nuôi thân thể giả tạm này. Lấy giả tu chân.Khi giảng về khất-sĩ, Hòa thượng Từ Thông nói: trong các loại sĩ thì Khất-sĩ là số một, hơn cả tiến-sĩ. Khất sĩ là những người đã xả hết pháp thế gian, trên cầu quả Vô-thượng Bồ-đề,xin giáo Pháp của Phật nuôi pháp thân huệ mạng, dưới là xin thức ăn của đàn na thí chủ để nuôi thân thể giả tạm này. Thứ hai là phá ác, là phá phiền não ác: tham, sân, si …. Nghĩa thứ ba là bố-ma. Bố là khủng bố. Tâm kiêu mạn của ma rất nặng. Tâm lúc nào cũng lo người khác vượt qua hắn. Nên khi Tỳ-kheo phát tâm tu đạo, nhất tâm mong cầu ra khỏi tam giới. Vì vậy, ma thấy được sanh tâm khủng bố. (Thiên ma luôn có tâm tật đố, sợ người khác hơn mình. Nên khi những vị Tỳ-kheo chân chánh tu đạo, mong thoát ra khỏi tam giới, ma thấy vậy thì sợ họ vượt hơn minh, nên gọi là bố-ma. Nhưng phải là thật sự tu hành). # vạn nhị thiên nhân câu: Một vạn hai ngàn người = 12 ngàn người. Câu là câu hội, là cùng tụ họp lại # Nhất thiết đại thánh: tất cả đại thánh. Hòa thượng chú giải đại thánh là những vị đã đoạn hết phân biệt, chấp trước, tức là Bồ-tát. # thần thông dĩ đạt: đã đạt thần thông. Hòa thượng chú giải: trí huệ năng lực rộng lớn vô biên, hiểu rõ tất cả sự và lý, đều không có chướng ngại. Tóm tắt đoạn này là khi Phật thuyết bộ Kinh này, ngoài Phật ra, ở tại núi Kỳ Xà Quật, ngoài thành Vương Xá, còn có chúng đại Tỳ-kheo, tổng cộng 12 ngàn người, cùng dự đại hội. Trong đó các vị đại thánh đã đạt được thần thông, hiểu rõ tất cả sự và lý.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
Tạm dịch:Tôi nghe như vầy, một thuở nọ đức Phật tại núi Kỳ Xà Quật ở thành Vương Xá, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một vạn hai ngàn người câu hội. Tất cả đại thánh, đã đạt thần thông Hòa Thượng chú giải: Bộ Kinh điển này y cứ vào chân tướng sự thật mà thuyết, do đích thân ngài A Nan nghe được từ Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết. Lúc đó Phật ở trên núi Kỳ Xà Quật bên ngoài thành Vương Xá. Đại chúng tham gia dự đại hội lần này có 12 ngàn người cùng tụ họp ở một nơi. Những vị ấy, đều là đại Bồ-tát, thánh nhân, đều có trí hệ năng lực vượt hơn người thường. Đối vất cả người, sự, lý và vật của thế gian đều thông đạt hiểu rõ. Thần thông dĩ đạt là đối vất cả người, sự, lý và vật của thế gian đều thông đạt hiểu rõ. Nghe đến thần thông quý vị thường nghĩ đến biến hóa…, đó chỉ là một phần nhỏ trong thần thông thôi. Khi đã thấu rõ nguyên lý của vũ trụ nhân sanh, của các pháp rồi, thì có thể biến hóa. Như ngài Mục Kiền Liên đem dòng họ Thích dấu vào bình bát đem lên trời Đao Lợi. Vì ngài đã thấu rõ nguyên lý của vũ trụ nhân sanh, của các pháp rồi, nên ngài làm được điều đó. Đó là hiệu quả của thần thông). Đoạn thứ hai: Kinh văn: 其名曰: Kỳ danh viết: 尊者憍陳如,尊者舍利弗,尊者大目犍連, Tôn giả Kiều Trần Như, Tôn giả Xá Lợi Phất, Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, 尊者迦葉,尊者阿難等,而為上首。 Tôn giả Ca Diếp, Tôn giả A Nan đẳng, nhi vi thượng thủ. Giải: # Kỳ danh viết: Kỳ là đại từ thay thế cho những vị được nhắc đến ở trước. Danh viết là tên là. Dịch: Những vị đại thánh đó tên là. Tôn giả ý nghĩa là tôn kính, là xưng hô với người có đạo đức, có trí huệ. Người thời nay xưng là tôn kính. Hòa thượng hay các vị Pháp sư khi giảng pháp thường nói: chư vị Pháp sư tôn kính. Đó là ngày nay, ngày xưa là Tôn giả, giả là người. Tôn giả là người tôn kính. Ở Việt Nam các bậc trưởng thượng tôn kính được gọi là Trưởng lão, các vị ấy vừa lớn về đạo hạnh, về trí huệ, về tuổi hạ. Những người mới xuất gia, thọ giới Tỳ-kheo thì gọi là Đại-đức, tương đương với chữ Tôn-giả. Việt Nam còn chế thêm Thượng-tọa (25 năm tuổi hạ kể từ khi thọ giới, 45 tuổi đời trở lên), Hòa-thượng (từ 40 tuổi hạ, 60 tuổi đời trở lên, vì 20 tuổi mới được thọ giới Tỳ-kheo). Khi thọ giới vào tháng 3 thì mùa hạ cùng năm đó (từ tháng 4 đến tháng 7) được tính là 1 tuổi hạ. Còn nếu thọ giới sau tháng 7 thì hạ năm đó không được tính. Nhà Phật là tính theo tuổi hạ. Cấp bậc này chỉ có ở Việt Nam. Ở Trung Hoa, Hòa thượng là chỉ người xuất gia thôi. Khi mình gặp Hòa thượng Tịnh Không thì mình xưng là Lão Pháp-sư là đúng rồi. Về Việt Nam thì mình chuyển lại Lão Pháp-sư thành Hòa thượng để phù hợp với Việt Nam. # Tôn giả Kiều Trần Như, Kiều Trần Như là tiếng Ấn Độ, phiên dịch sang tiếng trung là Minh Liễu, là sáng tỏ. Ngài là người học trò đầu tiên được thành tựu khi đức Phật thuyết pháp. Năm anh em Kiều Trần Như là những người được vua Tịnh Phạn sai đi theo khi Thái-tử Sĩ Đạt Đa rời nhà đi tìm đạo, mục tiêu là tu hành và bảo vệ Thái-tử. Khi đức Phật thành đạo, ngoài Kinh Hoa Nghiêm thuyết trong định thì đức Phật thuyết bộ Kinh đầu tiên là Kinh Chuyển Pháp Luân, sau đó là Kinh Vô Ngã Tướng. Ngài Kiều Trần Như là người đầu tiên đắc được quả A-la-hán sau khi nghe bộ Kinh Vô Ngã Tướng. Ngài trong Kinh này được xếp tên ở vị trí thứ nhất, để đại biểu Kinh này là bộ Kinh bậc nhất trong tất cả các Kinh của Phật thuyết. Điều này được trùng tuyên lại ở phẩm 43 – Phi Thị Tiểu Thừa.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
Người cuối cùng được độ trước khi Phật nhập Niết Bàn là Tôn giả Tu Bạt Đà La. Việc này được nói trong Kinh Đại Bát Niết Bàn và một số bộ Kinh khác. Trước khi Thế Tôn nhập Niết Bàn tại rừng Sa La Song Thọ, có một người ngoại đạo Bà-la-môn, sống đến 120 tuổi, tên là Tu Bạt Đà La, học thông hết tất cả các Kinh Vệ Đà, nhưng ông vẫn chưa thấy phục lắm. Lúc đó ở Ấn Độ có rất nhiều giáo phải, ai cũng xưng là Nhất-thiết-trí. Ông nhận thấy chỉ có Thích Ca Mâu Ni Phật, tức Sa-môn Cồ Đàm là một điều tuyệt vời nhất. Cho nên ông tìm đến. Nhưng lúc đó Thế Tôn sắp nhập Niết Bàn nên không ai cho ông vô, ngài A Nan cản lại. Tu Bạt Đà La 3 lần khải thỉnh nhưng ngài A Nan vẫn không cho vào. Thích Ca Mâu Ni Phật bèn dùng cách truyền âm nói với A Nan cho ông ta vào. Sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, ông ta chứng Sơ-quả Tu-đà-hoàn, và xin Phật xuất gia. Đức Phật nói: “Thiện Lai Tỳ-kheo” thì ông ta thấy râu tóc đều rụng xuống. Lúc đó Phật thuyết thêm một bài Pháp nữa thì ông chứng quả A-la-hán. Ông liền nói với đức Phật: “Con không muốn thấy đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, con xin phép nhập Niết Bàn trước đức Thế Tôn”, và ông ta nhập Niết Bàn. Đó là vị Tỳ-kheo cuối cùng được đức Phật độ, Tôn giả Tu Bạt Đà La. Vị này không được nhắc đến trong Kinh này. Nhưng Kinh này cũng là bộ Kinh cuối cùng còn lại 100 năm sau khi Chánh-pháp diệt độ những người đệ tử cuối cùng của Phật. Cho nên Tôn giả Kiều Trần Như xếp ở vị trí đầu tiên đại biểu cho Kinh này là đệ nhất Kinh trong các Kinh mà Phật thuyết. # Tôn giả Xá Lợi Phất: tiếng Ấn ĐộXá Lợi có ý nghĩa là thân tướng tốt đẹp. Phất là con trai. Nghĩa là con trai của người có thân tướng tốt đẹp (tức là mẹ ngài có thân tướng tốt đẹp). Trong Bát Nhã Tâm Kinh gọi là Xá Lợi tử. Ngài là trí huệ đệ nhất trong hàng đệ tử của đức Phật. Ngài xếp ở vị trí thứ hai biểu thị là người có trí huệ đệ nhất mới có thể hiểu rõ bộ Kinh này. Cũng có nghĩa là tu theo bộ Kinh này quý vị sẽ được trí huệđệ nhất. Lời này Thiện Trang nói có căn cứ. Quý vị về Tây Phương Cực Lạc có được vô-lượng-quang, vô-lượng-thọ, vô-lượng-trí-huệ. Vừa về Tây Phương chúng ta được sự gia trì của Phật, có được trí huệ của Bát-địa Bồ-tát. # Tôn giả Đại Mục Kiền Liên:Mục Kiền Liên là Thái Thục. Thục là một loại đậu, nói rõ gia tộc của ngài nhiều thế hệ làm nghề nông nên dùng Thái Thục để làm họ. Thiện Trang chú giải thêm: Thái có nghĩa là hái. Thái Thục là hái đậu. Chữ Đại ở đây để phân biệt những người cùng họ. Thời đức Phật có nhiều ngài Mục Kiền Liên, nên có chữ Đại để phân biệt ngài là thần thông đệ nhất của đức Phật. Ngài là người đệ nhất có đầy đủ năng lực thần kỳ, thông đạt trong hàng đệ tử của đức Phật. Đây là đại biểu là nếu chúng ta học tập theo bộ Kinh này sẽ có được năng lực đặc biệt. Ngài Xá Lợi Phật và ngài Mục Kiền Liên là bạn thân với nhau. Trước khi xuất gia với đức Phật, 2 vị đã thống lĩnh hai giáo phái ngoại đạo. Họ bàn với nhau chia ra đi tìm người thông đạt hơn để tiếp tục học tập. Ngài Xá Lợi Phất tình cờ nghe được Tỳ-kheo Mã Thắng đọc bài kệ: “Chư pháp tùng duyên sanh, Diệc tùng nhân duyên diệt. Ngã Phật Ðại Sa Môn, Thường tác như thị thuyết.” Dịch nghĩa: Các pháp do duyên sanh Cũng do duyên mà diệt Thầy tôi là đức Phật Nói và làm như thế. Ngài Xá Lợi Phất ngộ ra, bèn chạy theo Tỳ-kheo Mã Thắng, dẫn theo toàn bộ giáo phái của ngài và cùng với ngài Mục Kiền Liên xuất gia với đức Phật. Ngài vô cùng biết ơn Tỳ-kheo Mã Thắng. Khi đi ngủ ngài luôn hỏi hiện nay ngài Mã Thắng ở đâu, và hướng về để cảm ơn.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
Quý vị nghe 2 câu kệ “Các pháp do duyên sanh, cũng do duyên mà diệt” thì sẽ không đau khổ. Tất cả đều do duyên, tất cả đều là vô thường. Ngài Mục Kiền Liên có thần thông, nhưng điều này cũng khiến cho ngài gặp nhiều rắc rối. Câu chuyện thứ nhất: Ở một vùng nọ, bị hán hán lâu dài, những người Bà-la-môn nói với dân làng hãy cúng dường cho họ để họ lập đàn cầu mưa. Những người dân ở đó vì tin tưởng vào Thích Ca Mâu Ni Phật và đệ tử của Ngài, họ bèn tới hỏi ngài Mục Kiền Liên là bao giờ có mưa. Ngài Mục Kiền Liên trả lời rằng 7 ngày sau sẽ mưa. Mục đích họ hỏi là dể gieo hạt giống. Nghe ngài Mục Kiền Liên nói vậy, họ liền đi gieo hạt giống. Kết quả là 7 ngày sau có mưa, nhưng mưa rất nhỏ, nên hạt giống đều khô cạn chết hết. Người dân rất đau xót nên mắng chửi ngài Mục Kiền Liên, rằng đệ tử đức Phật mà gạt người. Lục quần Tỳ-kheo đi ngang nghe thấy bèn hỏi sự tình. Lục quần Tỳ-kheo rõ sự việc rồi bèn về lập pháp yết-ma để kể tội ngài Mục Kiền Liên lường gạt người dân. Việc trình lên đức Phật, Ngài nói ngài Mục Kiền Liên không có lỗi. Chỉ vì ngài Mục Kiền Liên không quan sát việc người ta hỏi để gieo giống nên ngài gặp rắc rối như thế. Câu chuyện thứ hai: có một gia đình, người vợ đang mang bầu, họ rất mong có con trai. Theo bấm quẻ xem số của Bà-la-môn ngoại đạo thì sẽ là con gái. Lúc đó ngài Mục Kiền Liên đi ngang qua, người này bèn hỏi ngài là con trai hay con gái. Ngài Mục Kiền Liên trả lời là con trai. Gia đình người này rất vui mừng, vì họ nghĩ ngài Mục Kiền Liên không thể nói sai được. Đến khi người vợ sanh ra con gái, khiến họ rất tức giận. Họ nói bây giờ tin ngoại đạo tốt hơn, không tin đệ tử của đức Phật nữa. Thực ra ngài Mục Kiền Liên trả lời đúng. Lúc mang thai đúng là con trai, nhưng do nghiệp dị thục, tức trong bất tư nghì nghiệp có những nghiệp chuyển biến. Ngài Mục Kiền Liên thực ra biết trước sẽ sanh con gái, nhưng vì thời điểm ngài trả lời thì thai vẫn còn là con trai, cho nên ngài chánh trực mà trả lời. Chuyện truyền tới đức Phật. Đó là một trong những lý do đức Phật không cho phép đệ tử sử dụng thần thông. # Tôn giả Ca Diếp, tiếng Ấn Độ là Ca Diếp, dịch là Ẩm Quang. Ẩm là uống, quang là quang minh, là ánh sáng. Là tán thán quang minh của ngài vượt hơn người khác, nên ánh sáng của những người khác không thấy được. Ngài xuất thân trong gia đình đại phú đại quý. Ngài là khổ hạnh đệ nhất trong hàng đệ tử của Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài là Sơ-tổ của Thiền-tông. Quý vị biết công án “Niêm hoa vi tiếu”, Thiền-tông được truyền cho ngài Ca Diếp, ngài Ca Diếp truyền cho ngài A Nan, ngài A Nan truyền cho ngài Thương Na Hòa Tu, ngài Thương Na Hòa Tu truyền cho ngài Ưu Ba Cúc Đa… đến Tổ thứ 27 là ngài Bát Nhã Đa La, và Tổ 28 là Bồ Đề Đạt Ma. Ở trong đây đại biểu niệm A Di Đà Phật là công phu thiền định tối cao. Những vị tôn giả là đứng ở những vị trí đó là đều có ý nghĩa. Ngoài ra ngài Ca Diếp còn có hạnh đầu-đà đệ nhất, ví dụ ngài thường ngủ ở nghĩa địa, hay ở ngoài đồng trống, buổi chiều không uống nước. Chỉ ăn cơm uống nước buổi sáng thôi. Đó là ý đại biểu cho tu hạnh phải chịu khổ. Thiện Trang thấy chùa nào tu Tịnh-độ cũng đều thịnh, chứng tỏ được sự gia trì.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
# Tôn giả A Nan: tiếng Ấn Độ là A Nan, dịch là Khánh Hỷ. Khánh Hỷ chính là khánh chúc hoan hỷ. Bởi vì khi tin vui Phật thành đạo đến gia đình của ngài, đúng lúc ngài được sanh ra, cho nên dùng Khánh Hỷ làm tên. Ngài là em họ của Phật. Sau xuất gia làm Thị giả cho Phật. Ngài là đa văn đệ nhất (tức là thích học rộng nghe nhiều, quảng học đa văn). Ở trong đây ngài đại biểu cho Giáo hạ. Ở Trung quốc có 10 Tông phái: Thiền-tông, Mật-tông, Tịnh-độ-tông, Pháp-hoa-tông, Hoa-nghiêm-tông, Tam-luận-tông (Sơ-tổ Trung Hoa là ngài Cưu Ma La Thập), Duy-thức-tông (Sơ-tổ Trung Hoa là ngài Huyền Trang), Luật-tông (Sơ-tổ Trung Hoa là ngài Đạo Tuyên), Câu-xá-tông và Thành-thật-tông. Trừ Thiền-tông ra, 9 tông phái còn lại gọi chung là Giáo hạ. Giáo là giáo pháp, hạ là hạ thủ công phu. Nghĩa là hạ thủ công phu trên giáo Pháp. Ví dụ như chúng ta là Tịnh-độ-tông thì phải học. Còn Thiền-tông dùng một câu “Bất lập văn tự Giáo ngoại biệt truyền Trực chỉ nhân tâm Kiến tánh thành Phật” Cho nên quý vị thấy Lục tổ Huệ Năng có học gì đâu. Rồi có rất nhiều công án thiền, như tổ Lâm Tế, một trong ngũ gia tông phái Thiền-tông, ngài có chiêu: la hét, lấy gậy đánh, chỉ cần vậy thôi người ta ngộ được, chứng đạo được. Cho nên Thiền-tông đặc biệt xếp riêng. Còn các giáo phải khác đều phải tiệm tu, tức là học từ từ. Chúng ta hiện nay là Tịnh-độ-tông cũng là tiệm tu. Cũng là học từ từ, dần dần. Thâm lý, tức là hiểu lý thì tin sâu. Tin sâu thì hành chuyên. Tịnh-độ-tông chúng ta là tín, hạnh, nguyện. Mà quan trọng là Tín, muốn tín thì phải học. Chỉ có mỗi Hòa thượng Hải Hiền thôi, còn chúng ta học bao nhiêu năm nay mà chữ Tín vẫn bị lung lay. Gió nhè nhẹ thôi mà cây đã rung rồi. Như vậy ngài A Nan đại biểu cho Giáo-hạ, tức là các tông phái còn lại. Trong 10 đại đệ tử của đức Phật mỗi người có một hạnh. Ngài Mục Kiền Liên là thần thông đệ nhất. Ngài Xá Lợi Phất là trí huệ đệ nhất. Ngài A Nan là đa văn đệ nhất. Ngài Tu Bồ Đề là giải không đệ nhất. Ngài Ca Chiên Diên là luận nghị đệ nhất. Ngài Ma Ha Ca Diếp là hạnh đầu đà đệ nhất. Đó là bên Tăng, bên Ni cũng có 10 đại đệ tử như vậy. Ngài A Nan biểu thị, quý vị học bộ Kinh này cũng thông được các giáo, đạt được đa văn đệ nhất như ngài A Nan. Một Kinh thông là tất cả Kinh thông. Chúng ta học Kinh Vô Lượng Thọ, niệm A Di Đà Phật thì chúng ta cũng được đa văn đệ nhất như ngài A Nan. Ngài A Nan cũng là Nhị-tổ của Thiền-tông. Ngài biểu thị cho cả Thiền, Giáo và Tịnh. Một câu A Di Đà Phật cũng là Mật-tông, cũng là niệm chú, cũng có thần thông như ngài Mục Kiền Liên, cũng được thiền định như ngài Ma Ha Ca Diếp. Cho nên chỉ đọc đoạn này thôi là chúng ta đã hiểu được bộ Kinh rồi. Còn ai căn tánh thượng thượng thừa thì chỉ đọc như thị thôi đã thông suốt hết rồi. # đẳng: có nghĩa là v.v…, còn nhiều nữa. Hòa thượng chú giải: chỉ đang ngồi thượng thủ còn nhiều vị khác nữa. Nghĩa là trong Pháp hội đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang thuyết, ngồi ở hàng đầu không chỉ có mấy người đó, mà còn rất nhiều người nữa. # nhi vi thượng thủ: mà làm thượng thủ, là những bậc ngồi ở trên đầu. Hòa thượng chú giải là chỗ ngồi ở trên cũng chính là vị trí cao nhất trong hàng thính chúng. Theo luật nhà Phật là người nào có tuổi hạ cao, thì người đó sẽ ngồi ở trên. Như vậy là những bậc tôn kính ngồi ở trên, còn nhiều người nữa, không phải chỉ có 5 vị này. 5 vị này là biểu thị cho tất cả rồi. Trong nguyên bản kể ra rất nhiều vị, có bộ kể ra ba mươi mấy tên, có bộ kể ra mười mấy tên. Người vừa lớn về đức hạnh, vừa lớn về tuổi hạ gọi là Trưởng lão. Tạm dịch: Tên các ngài là: Tôn giả Kiều Trần Như, Tôn giả Xá Lợi Phất, Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, Tôn giả Ca Diếp, Tôn giả A Nan v.v… là những bậc thượng thủ. Hòa Thượng chú giải: Tên của các ngài ấy là: Trưởng lão Kiều Trần Như tôn kính, ngài đại biểu Kinh này là Pháp môn đệ nhất. Trưởng lão Xá Lợi Phất tôn kính, ngài đại biểu Kinh này là trí huệ đệ nhất. Trưởng lão Đại Mục Kiền Liên tôn kính, ngài đại biểu Kinh này là thông đạt thần kỳ đệ nhất. Trưởng lão Ma Ha Ca Diếp tôn kính, ngài đại biểu cho Thiền-tông. Trưởng lão A Nan tôn kính, ngài đại biểu ngoài Thiền-tông là Giáo hạ. Như vậy Pháp môn này là đệ nhất, tu theo bộ Kinh này là trí huệ đệ nhất, thần thông đệ nhất, thiền định cao nhất, ngoài ra được thông suốt hết tất cả các Kinh điển. Cho nên một Kinh này là đủ rồi. Ngay phẩm 1 này đã nói lên điều đó rồi. Quý vị chỉ cần nghe đoạn này thôi đã tinh tấn hơn rồi. Chỉ cần học một đoạn thôi là thông hết các đoạn còn lại. Một môn thâm nhập trường kỳ huân tu. Nhất hạnh đây gọi là nhất hạnh tam-muội. Niệm Phật là thiền định tối cao.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
Đoạn thứ ba: Kinh văn: 又有普賢菩薩,文殊師利菩薩,彌勒菩薩, Hựu hữu Phổ Hiền Bồ-tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát, Di Lặc Bồ-tát, 及賢劫中一切菩薩,皆來集會。 cập Hiền kiếp trung nhất thiết Bồ-tát, giai lai tập hội. Giải: # Hựu hữu Phổ Hiền Bồ-tát: Hòa thượng chú giải: Phổ là biến nhất thiết xứ, là khắp ở mọi nơi. Hiền là tối diệu, tối thiện (vi diệu nhất, thiện nhất). Tâm, nguyện, hạnh, thân, khẩu ý của Bồ Tát không có một chút bất bình đẳng, vả lại phổ biến rộng khắp, chân thành, thuần nhất, diệu thiện đối với tất cả người, sự, vật. Cho nên xưng hiệu là Phổ Hiền. Bồ-tát là người hiểu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Ngài Huyền Trang dịch là Bồ-đề Tát-đỏa. Phổ Hiền Bồ Tát biểu thị cho Mật - Tịnh bất nhị (tức là Mật-tông và Tịnh-tông là không hai). Ngài là Kim Cang Tát Đỏa. Khoảng 600 năm sau khi Phật nhập Niết Bàn, xuất hiện Bồ Tát Long Thọ. Trong Kinh Nhập Lăng Già, đức Phật huyền ký là 600 năm sau khi ta nhập Niết Bàn sẽ có một vị Bồ Tát tên là Long Thọ, chứng đến Hoan-hỷ-địa, tức là Sơ-địa, sẽ tiếp tục lưu truyền giáo pháp của ta. Ngài Long Thọ tìm thấy một cái rương. Mở ra trong đó có một tượng Kim Cang Tát Đỏa, và những bộ Kinh truyền về Mật-tông. Từ đó mới có một số Kinh Mật-tông lưu truyền tại Ấn Độ như Kinh Thắng Man. Mật-tông đương nhiên có từ thời đức Phật, nhưng 600 năm sau mới được truyền rộng rãi. Ngài Phổ Hiền chính có hóa thân làKim Cang Tát Đỏa Bồ Tát. Ngài Phổ Hiền như vậy là Sơ-tổ, truyền cho ngài Long Thọ. Ngài Long Thọ là Tổ sư của 8 tông phái. Phổ Hiền Bồ Tát biểu thị cho Mật Tịnh bất nhị. Có nghĩa là niệm Phật cũng là nơi quay về của những người tu Mật-tông. Ở Tây Tạng có rất nhiều giáo phái Mật-tông đều quy hướng về Tây Phương Cực Lạc, niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc. Ngoài ra cũng là ý nói, chúng ta tu theo bộ Kinh này, chúng ta cũng có thần thông. Có người làm chứng rồi đó, cô Lưu Tố Vân. Hoàn toàn là có thể được. # Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát, dịch sang tiếng Trung là Diệu Kiết Tường, tức là vi diệu, kiết tường, minh tâm kiến tánh. Trong chúng Bồ-tát ngài đại biểu trí huệ đệ nhất. Biểu thị chân lý sự thật mà bộ Kinh này đã nói, thì chính là người có đại trí huệ. Ở bên trên ngài Xá Lợi Phất biểu thị cho trí hệ đệ nhất của hàng Thanh-văn. Còn ở đây Văn Thù Bồ Tát đại biểu cho hàng Bồ-tát. Nghĩa là ai có thể tin tưởng hiểu được chân tương sự thật trong Kinh này nói, chính là người có trí huệ đệ nhất. Ngài ở trong Kinh này đại biểu Thiền - Tịnh bất nhị. Tương truyền ngài Văn Thù Sư Lợi có hóa thân làm Sơ-tổ của Hoa-nghiêm-tông. Sơ-tổ của Hoa-nghiêm-tông Trung Hoa là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù, ngài Đỗ Thuận. Có nghĩa là trong đây cũng có Hoa Nghiêm, có thể nói như vậy.

Top Downloads

Recently Download


Recently Searches


Public Response On Vlt031 Tạm Chia Sẻ Kinh Vô Lượng Thọ Phẩm 1 Pháp Hội Thánh Chúng Thích Thiện Trang

Van Doan10 Months ago
NAM MO A DI DA PHAT.NAM MO A DI DA PHAT.NAM MO A DI DA PHAT. CON XIN TRI AN CUNG KINH DANH LE THAY THICH THIEN TRANG.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
Nam Mô A Mi Đà Phật! “Như vậy Pháp môn này là đệ nhất, tu theo bộ Kinh này là trí huệ đệ nhất, thần thông đệ nhất, thiền định cao nhất, ngoài ra được thông suốt hết tất cả các Kinh điển. Cho nên một Kinh này là đủ rồi. Ngay phẩm 1 này đã nói lên điều đó rồi. Quý vị chỉ cần nghe đoạn này thôi đã tinh tấn hơn rồi. Chỉ cần học một đoạn thôi là thông hết các đoạn còn lại. Một môn thâm nhập trường kỳ huân tu. Nhất hạnh đây gọi là nhất hạnh tam-muội. Niệm Phật là thiền định tối cao”. –Cuộc đời này cho đến mãi mãi về sau, con sẽ luôn học tập và hoằng dương Kinh Vô Lượng Thọ, cho đến khi thành Phật con cũng sẽ nối tiếp sứ mạng của Như Lai, tuyên thuyết Kinh Vô Lượng Thọ cho vô lượng chúng sanh, ở vô lượng thế giới - bộ Kinh duy nhất có thể độ thoát kẻ phàm phu nghiệp dày một đời liễu thoát sanh tử luân hồi. Kính chuyển đến chư vị hữu duyên phần ghi chép tóm lược lại bài giảng Kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác – Pháp Hội Thánh Chúng -Đệ Nhất(Thánh Chúng Dự Pháp Hội – Phẩm Thứ Nhất) Giảng giải: Thầy Thích Thiện Trang Giảng ngày: 08.08.2020 Phát trực tiếp trên Kênh YouTube Thích Thiện Trang (Link YouTube tại đây: https://youtu.be/h8nIQXKc8LE) và mạng xã hội Facebook: Fanpage Thích Thiện Trang. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Nam Mô A Mi Đà Phật! Kính chào quý vị liên hữu đồng tu đang theo dõi thời pháp vào tối thứ bảy hàng tuần trên mạng xã hội Facebook (Fanpage Thích Thiện Trang) và kênh YouTube! Hôm nay là buổi thứ 31 Thiện Trang tiếp tục chia sẻ tâm đắc học tập Kinh Vô Lượng Thọ. Hôm nay chúng ta bắt đầu vào Phẩm thứ nhất Kinh Vô Lượng Thọ. Quý vị đã biết, vạn pháp do nhân duyên sanh, chia sẻ Phật pháp cũng là duyên. Mỗi người đều có một nhân duyên. Hôm nay chúng ta chia sẻ bộ Kinh này để tiếp tục làm hành trang một đời này ra khỏi sanh tử luân hồi, một đời này chúng ta về Tây Phương Cực Lạc. Tựa đề: 法會聖眾第一 Pháp Hội Thánh Chúng, Đệ Nhất Giải: # Pháp Hội Thánh Chúng:Thánh Chúng dự Pháp hội: Pháp là Phật pháp. Hội là Đại hội Phật pháp. Hòa thương Tịnh Không chú giải: Pháp hội là Đại hội giảng Kinh thuyết pháp của đức Phật Thích Ca Mâu Mi. Thánh chúng là những người chứng quả vị thánh (Thanh Văn, Bồ Tát v.v…) mà đang dự trong pháp hội này. Chúng là đại chúng thông thường chưa chứng quả. Pháp Hội Thánh Chúng là kể ra những người thường, những vị A-la-hán, Bồ Tát dự pháp hội của đức Phật Thích Ca Mâu Mi giảng Kinh Vô Lượng Thọ. # Đệ Nhất: phẩm thứ nhất
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
Hòa Thượng chú giải: Kinh văn Phẩm này là nói rõ Thánh chúng thù thắng đích thân tham gia Đại hội giảng Kinh thuyết Pháp của Thích Ca Mâu Mi Phật. Đoạn thứ nhất: Kinh văn: 如是我聞。一時佛在王舍城耆闍崛山中, Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại Vương Xá thành Kỳ Xà Quật sơn trung, 與大比丘眾萬二千人俱。 dữ đại Tỳ-kheo chúng vạn nhị thiên nhân câu. 一切大聖,神通已達。 Nhất thiết đại thánh, thần thông dĩ đạt. Giải: # Như thị: chữ “như” này đã có một vị Tổ sư giảng hết 9 ngày. Tất cả Phật pháp quy về 2 chữ như thị, nói gọn lại là chữ như. Lần trước Thiện Trang đã giới thiệu với quý vị bài kệ của một vị Thiền-sư Việt Nam – Thiền Sư Phước Hậu “Kinh điển lưu truyền tám vạn tư Học nhiều chẳng thiếu cũng chẳng dư Đến nay nghĩ lại đà quên hết Chỉ nhớ trong đầu một chữ như”. Triển khai tất cả Phật pháp đều nằm trong chữ “như” đó. Tất cả Phật pháp gom lại là căn bản Pháp-luân của Thích Ca Mâu Ni Phật, là căn bản Kinh Hoa Nghiêm. Nếu như nói Giáo-pháp của Phật như một cây lớn có hoa, lá, cành… thì Kinh Hoa Nghiêm như là thân cây. Các kinh điển còn lại là cành nhánh của cây. Kinh Vô Lượng Thọ là cốt lõi của cây đó, tức là quy kết của Kinh Hoa Nghiêm. Hòa thượng chú giải: Như là từ đại biểu cho chân tướng sự thật. Tất cả vũ trụ nhân sanh, ví dụ như con người từ đâu đến v.v…, đều có một sự thật. Sự thật đó là Chân Như, tức là như, là thật tướng. Con người từ đâu mà đến, chúng ta từ đâu mà đến, là từ Chân Như, Tự-tánh mà đến. Tức là từ Thường-tịch-quang. Vì một niệm vô minh nên sanh ra Thập-pháp-giới. Từ Thập-pháp-giới lại có phân biệt, chấp trước và trần sa, nên có sáu cõi luân hồi. Cho nên chữ như này quá sâu, quá khó hiểu. Ở đây chúng ta chỉ nói về chữ như trong Kinh này, nói về sự thật trong Kinh này. Sự thật trong Kinh này nói để chúng ta trở về con đường giải thoát, trở về Chân Như, tự-tánh. Trở về con đường đó bằng cách niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc. Đó là chữ như đơn giản nhất. Thực ra nói 9 ngày (như vị Tổ đó) hay nói hết cả đời cũng không nói hết được chữ như. Nói ngắn gọn là chữ như đại biểu cho chân tướng sự thật. Chữ “thị” nghĩa là dựa vào chân tướng sự thật mà thuyết giảng. Tức là những điều Phật nói ra trong Kinh này là căn cứ vào chân tướng sự thật. Kinh Vô Lượng Thọ nói toàn là sự thật. Cho nên là “như thị” là nói đúng theo sự thật của Chân Như.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
# ngã văn:Chữ ngã là Tôn giả A Nan tự xưng. Hòa thượng chú giải: Ngã là tự xưng của Tôn giả A Nan. Khi kết tập Kinh điển lần thứ nhất tại hang Thất-diệp, Tôn giả A Nan có trách nhiệm trùng tuyên lại Kinh tạng. Ngài A Nan sau khi chứng quả A-la-hán bay vào trong hang động. 499 vị A-la-hán khác đang chờ ngài A Nan. Vì ngài A Nan là người nghe hết tất cả các bài Pháp của Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài A Nan xuất gia sau, nhưng ngài khi ngài chấp nhận làm thị-giả cho Phật có đưa ra mấy điều kiện, trong đó có một điều kiện là tất cả những gì Phật đã thuyết, phải thuyết lại cho ngài nghe, để sau này trùng tuyên lại. Khi ngài A Nan lên đài thì xưng là “như thị ngã văn”. Câu đầu tiên là “như thị ngã văn”, chúng ta dịch là “tôi nghe như vầy”. Chữ ngã đó được xưng do ba điều nghi. Điều nghi thứ nhất là khi ngài A Nan lên đài thì được chư Phật gia trì nên ngài có tướng rất đẹp, hào quang rực rỡ, nên đại chúng trong hội trùng tuyên đó nghi ngài A Nan đã thành Phật. Thứ hai là nghi đức Phật sống lại. Điều nghi thứ ba là nghi Phật từ phương khác đến. Cho nên khi ngài A Nan nói “như thị ngã văn” thì mọi người đều biết là A Nan chỉ thuật lại những gì ngài đã nghe được. Có một số Kinh như Kinh Tứ Thập Nhị Chương không có chữ này. Đó là bộ Kinh lần đầu tiên dược truyền tới Trung Hoa, hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan bỏ bớt đi câu “như thị ngã văn”, vì khó quá. Chữ “văn” là chỉ cho chính ngài A Nan được nghe Phật thuyết pháp, bây giờ ngài trùng tuyên lại. Lần này chỉ giảng đơn giản như vậy. Chữ như là toàn bộ Phật pháp. Ai có thể hiểu được chữ như làm theo được, thì người đó là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, căn cơ như Lục tổ Huệ Năng. Chúng ta chưa làm được, cho nên chúng ta đi con đường nhẹ nhàng là tiệm tu. Học giáo để lý giải được. Sau khi hiểu được rồi, thì chúng ta có được niềm tin. Có được niềm tin chúng ta sẽ thực hành được. Thực hành được thì sẽ chứng ngộ được. Đó là quy trình Tín, Giải, Hành, Chứng. Khi chúng ta chứng được, lại càng tăng thêm niềm tin. # nhất thời cũng có ý nghĩa rất sâu, thông thường chúng ta dịch là “một thuở nọ”. Hòa thượng chú giải là thời gian mà Phật thuyết giảng bộ Kinh này, cũng chính là lúc căn tánh cơ duyên thành Phật của chúng sanh đã chín muồi. Nhất thời không ghi năm tháng ngày giờ. Thời gian vốn không có thật. Đối với phàm phu chúng ta thì có thời gian, đối với thánh nhân không có thời gian. Cho nên nhất thời ở đây là vào thời điểm nào đó mà khi căn tánh của chúng sanh chín muồi, thì có thể nghe được bộ Kinh này. Ví dụ như chúng ta hiện nay, thính chúng chúng ta, có rất nhiều vị đều cơ duyên thành thục. Căn tánh là thiện căn, cơ duyên là thời cơ, nhân duyên đã thuần thục rồi, nên quý vị mới được nghe bộ Kinh này. Cho nên gọi là căn tánh chín muồi. Chứ không phải là Phật giảng vào một lúc nào đó thôi. Ví dụ như ngài Thiên Thai Trí Giả Đại sư, khi ngài tụng Kinh Pháp Hoa, ngài nhập định vẫn thấy được hội Linh Sơn. Tức là ở núi Linh Thứu đức Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn đang giảng Kinh thuyết pháp, hội Kinh Pháp Hoa vẫn chưa tan. Như mở đầu Kinh Pháp Hoa nói đến thời gian nhập định giảng Kinh, thính chúng thấy như là thời gian một bữa ăn, nhưng lại thực tế đã trải qua 60 tiểu kiếp. Đó là câu chuyện trong Kinh Pháp Hoa. Cho nên thời gian vốn là không thật. Chúng ta bị phân biệt làm cho cảm thấy thời gian đó là thật. Nếu quý vị đoạn được bốn tướng như trong Kinh Kim Cang nói: vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng. Vô ngã tướng: ta không phải là ta, vô nhân tướng: không có người và ta, vô chúng sanh tướng: không có chúng sanh hữu tình và vô tình. Cuối cùng là điều mà Thiện Trang muốn nói đến là vô thọ giả tướng. Thọ ở đây không phải là cảm thọ, mà là thọ mạng, chính là thời gian. Quý vị xả được thời gian là chứng được Sơ-quả, như Kinh Kim Cang nói. Quý vị thấy khó không? Tiêu chuẩn của Kinh Kim Cang khá cao. Mình biết như vậy để làm sao khế nhập được Chân Như, khế nhập được nhất thời. Rất khó, phải tu lâu năm. Còn bây giờ chúng ta tu không nổi. Ví dụ như hai người ở thế gian có mối tình rất thâm sâu, họ nguyện chết cùng lúc, để tái sanh cùng lúc. Nhưng họ không biết rằng nghiệp dẫn mỗi người đi khác nhau. Chết có thể cùng lúc, nhưng tái sanh không chắc là cùng lúc. Vì sau khi chết rơi vào trạng thái, khoa học gọi là phi thời gian. Ví dụ như con tàu bị mất tích, thời gian sau lại xuất hiện lại.Mọi thứ trên tàu vẫn y nguyên, nhưng thực tế đã qua mấy chục năm. Đó là rơi vào trạng thái không gian khác, trạng thái không thời gian. Cho nên người chết trước lại có thể đi đầu thai sau. Đó là cảnh giới bất khả tư nghì nghiệp, không thể nghĩ bàn. Có Cư sĩ Minh Tâm (Điền Dũng Vương) đang dịch Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú mà Thiện Trang giảo, hỏi rằng, khi con đọc đến phẩm Nhập Pháp Giới Kinh Hoa Nghiêm, con có thắc mắc là Kinh Hoa Nghiêm giảng đầu tiên, sau khi đức Phật thành đạo nhập trong đại định mà thuyết, tại sao lúc đó lại có ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên, lúc thời điểm đó chưa được độ mà. Thiện Trang trả lời, thứ nhất là thời gian vốn không thật. Đây là nhất thời. Thời gian là không thật, chỉ là do vọng tình chấp của chúng sanh mà thôi. Khi chứng quả vị Thánh, như ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên sau khi chứng quả các ngài có thể nhập vào đại định, dự pháp hội đó không bị hạn chế về không gian và thời gian. Lý do thứ hai, các ngài đều là cổ Phật thị hiện, cho nên không có trở ngại gì. Quý vị coi trong Kinh Hoa Nghiêm hầu như các ngài đều có hết. Câu chuyện dễ hiểu hơn là câu chuyện về Ma Da Phu-nhân. Ma Da Phu-nhân, là mẹ của Thái tử Sĩ Đạt Đa. Sau khi sanh Thái tử được 7 ngày bà sanh lên cõi trời Đao-lợi. Khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni sắp nhập Niết Bàn, ngài lên cung trời Đao-lợi thuyết pháp độ mẹ chứng quả để trả ân hiếu. Bộ Kinh đầu tiên được ghi lại, là Kinh Ma Ha Ma Da – Phật Đăng Đao Lợi Thiên Vị Mẫu Thuyết Pháp (Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch sang chữ Hán vào thời Tiêu Tề). Kinh Địa Tạng là hội sau. Khi ngài lên trời Đao-lợi, với tư cách là một vị Phật ngài không thể đi tìm người thường, ngài sai ngài Văn Thù Sư Lợi mang đến cho Ma Gia Phu-nhân một bài kệ. Nghe xong bài kệ, Ma Gia Phu-nhân rất xúc động, bà đến gặp đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại cung trời Đao-lợi. Khi đức Phật thuyết pháp cho bà, bà liền chứng quả Tu-đà-hoàn. Bà nhớ lại quá khứ, có kiếp đã từng giàu sang quyền quý, hoặc có kiếp làm tôi đòi, hoặc có kiếp ra oai, hoặc có kiếp bị người ức hiếp, hoặc có kiếp bỏ thân nơi đồng hoang, hoặc có kiếp làm cô phụ (ế chồng), có kiếp lại đầm đề con cháu v.v…Thấy kiếp luân hồi quá khổ, bà hỏi đức Thế Tôn: tại sao chúng sanh khổ. Nghe như vậy chúng ta thấy Ma Gia Phu-nhân là phàm phu. Nhưng trong Kinh Hoa Nghiêm Ma Gia Phu-nhân là tham vấn thứ 41 của Thiện Tài Đồng-tử. Vị trí của bà không phải là người bình thường, bà đã chứng đến Thập-địa Bồ-tát là vị trí thứ 50. Trong Kinh nói: “Nhất Phật xuất thế, ngàn Phật hộ trì”. Cho nên Ma Gia Phu-nhân cũng đến thị hiện mà thôi.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
Thời gian không có thật, không gian cũng không có thật. Thiện Trang lấy ví dụ như sau. Trên màn hình điện thoại, quý vị đang coi một bộ phim luân hồi sanh tử, ở phút thứ ba mấy của buổi hôm nay. Quý vị có thể kéo lui lại hoặc kéo tiến lên đằng sau để coi. Cho nên thời gian và không gian chỉ hiển thị trên màn hình thôi. Không gian cũng vậy, chúng ta coi cảnh này, coi cảnh kia, nhưng đều là không thật. Con mắt của chúng ta cũng vậy, cũng như màn hình thôi. Chúng đưa cảnh giả vào nhưng chúng ta chấp là thật. Cho nên chúng ta mãi khổ đau, chìm đắm trong đó, nhưng mấy ai giác ngộ được điều đó. Thời gian là giả, mà chúng ta cho là thật, nên chúng ta đau khổ. Như vậy nhất thời là thời gian mà duyên hội ngộ đầy đủ để Phật thuyết Kinh này. Và chúng sanh khi căn tánh, thời cơ thành Phật đã chín muồi thì gặp được bộ Kinh này. Như chúng ta hôm nay đây cũng là nhất thời. Còn cụ thể thì Phật thuyết bộ Kinh này 5 lần. # Phật tại Vương Xá thành:Phật là Thích Ca Mâu Ni Phật. Thành Vương Xá là ở nước Ma Kiệt Đà, do vua Tần Bà Sa La trị vì, sau này là vua A Xà Thế. # Kỳ Xà Quật sơn trung: núi Linh Thứu, quả núi có hình con chim Thứu. Thực ra núi này nằm bên ngoài thành Vương Xá. # dữ đại Tỳ-kheo chúng: dữ là cùng với. Đại là sanh đại Giải (hiểu sâu về Phật pháp, về thật tướng vũ trụ nhân sanh), phá đại Ác (phá được tất cả phiền não), chứng đại Quả. Đây không phải là những người bình thường, đều là những người đã chứng quả. Tỳ-kheo là người xuất gia theo nhà Phật, thọ 250 giới, hay là cụ túc giới. Nam là Tỳ-kheo, nữ là Tỳ-kheo-ni. Chúnglà số nhiều. Hòa thượng chú giải Tỳ-kheo có 3 nghĩa: thứ nhất là khất-sĩ, khất thực dưỡng thân, khất pháp dưỡng tâm. (Tức là xin thức ăn để nuôi thân, xin Pháp để nuôi tâm. Người xin này là đặc biệt cao cấp, không phải người ăn xin bình thường. Trên xin giáo Pháp của Phật nuôi pháp thân huệ mạng, dưới là xin thức ăn của chúng sanh để nuôi thân thể giả tạm này. Lấy giả tu chân.Khi giảng về khất-sĩ, Hòa thượng Từ Thông nói: trong các loại sĩ thì Khất-sĩ là số một, hơn cả tiến-sĩ. Khất sĩ là những người đã xả hết pháp thế gian, trên cầu quả Vô-thượng Bồ-đề,xin giáo Pháp của Phật nuôi pháp thân huệ mạng, dưới là xin thức ăn của đàn na thí chủ để nuôi thân thể giả tạm này. Thứ hai là phá ác, là phá phiền não ác: tham, sân, si …. Nghĩa thứ ba là bố-ma. Bố là khủng bố. Tâm kiêu mạn của ma rất nặng. Tâm lúc nào cũng lo người khác vượt qua hắn. Nên khi Tỳ-kheo phát tâm tu đạo, nhất tâm mong cầu ra khỏi tam giới. Vì vậy, ma thấy được sanh tâm khủng bố. (Thiên ma luôn có tâm tật đố, sợ người khác hơn mình. Nên khi những vị Tỳ-kheo chân chánh tu đạo, mong thoát ra khỏi tam giới, ma thấy vậy thì sợ họ vượt hơn minh, nên gọi là bố-ma. Nhưng phải là thật sự tu hành). # vạn nhị thiên nhân câu: Một vạn hai ngàn người = 12 ngàn người. Câu là câu hội, là cùng tụ họp lại # Nhất thiết đại thánh: tất cả đại thánh. Hòa thượng chú giải đại thánh là những vị đã đoạn hết phân biệt, chấp trước, tức là Bồ-tát. # thần thông dĩ đạt: đã đạt thần thông. Hòa thượng chú giải: trí huệ năng lực rộng lớn vô biên, hiểu rõ tất cả sự và lý, đều không có chướng ngại. Tóm tắt đoạn này là khi Phật thuyết bộ Kinh này, ngoài Phật ra, ở tại núi Kỳ Xà Quật, ngoài thành Vương Xá, còn có chúng đại Tỳ-kheo, tổng cộng 12 ngàn người, cùng dự đại hội. Trong đó các vị đại thánh đã đạt được thần thông, hiểu rõ tất cả sự và lý.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
Tạm dịch:Tôi nghe như vầy, một thuở nọ đức Phật tại núi Kỳ Xà Quật ở thành Vương Xá, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một vạn hai ngàn người câu hội. Tất cả đại thánh, đã đạt thần thông Hòa Thượng chú giải: Bộ Kinh điển này y cứ vào chân tướng sự thật mà thuyết, do đích thân ngài A Nan nghe được từ Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết. Lúc đó Phật ở trên núi Kỳ Xà Quật bên ngoài thành Vương Xá. Đại chúng tham gia dự đại hội lần này có 12 ngàn người cùng tụ họp ở một nơi. Những vị ấy, đều là đại Bồ-tát, thánh nhân, đều có trí hệ năng lực vượt hơn người thường. Đối vất cả người, sự, lý và vật của thế gian đều thông đạt hiểu rõ. Thần thông dĩ đạt là đối vất cả người, sự, lý và vật của thế gian đều thông đạt hiểu rõ. Nghe đến thần thông quý vị thường nghĩ đến biến hóa…, đó chỉ là một phần nhỏ trong thần thông thôi. Khi đã thấu rõ nguyên lý của vũ trụ nhân sanh, của các pháp rồi, thì có thể biến hóa. Như ngài Mục Kiền Liên đem dòng họ Thích dấu vào bình bát đem lên trời Đao Lợi. Vì ngài đã thấu rõ nguyên lý của vũ trụ nhân sanh, của các pháp rồi, nên ngài làm được điều đó. Đó là hiệu quả của thần thông). Đoạn thứ hai: Kinh văn: 其名曰: Kỳ danh viết: 尊者憍陳如,尊者舍利弗,尊者大目犍連, Tôn giả Kiều Trần Như, Tôn giả Xá Lợi Phất, Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, 尊者迦葉,尊者阿難等,而為上首。 Tôn giả Ca Diếp, Tôn giả A Nan đẳng, nhi vi thượng thủ. Giải: # Kỳ danh viết: Kỳ là đại từ thay thế cho những vị được nhắc đến ở trước. Danh viết là tên là. Dịch: Những vị đại thánh đó tên là. Tôn giả ý nghĩa là tôn kính, là xưng hô với người có đạo đức, có trí huệ. Người thời nay xưng là tôn kính. Hòa thượng hay các vị Pháp sư khi giảng pháp thường nói: chư vị Pháp sư tôn kính. Đó là ngày nay, ngày xưa là Tôn giả, giả là người. Tôn giả là người tôn kính. Ở Việt Nam các bậc trưởng thượng tôn kính được gọi là Trưởng lão, các vị ấy vừa lớn về đạo hạnh, về trí huệ, về tuổi hạ. Những người mới xuất gia, thọ giới Tỳ-kheo thì gọi là Đại-đức, tương đương với chữ Tôn-giả. Việt Nam còn chế thêm Thượng-tọa (25 năm tuổi hạ kể từ khi thọ giới, 45 tuổi đời trở lên), Hòa-thượng (từ 40 tuổi hạ, 60 tuổi đời trở lên, vì 20 tuổi mới được thọ giới Tỳ-kheo). Khi thọ giới vào tháng 3 thì mùa hạ cùng năm đó (từ tháng 4 đến tháng 7) được tính là 1 tuổi hạ. Còn nếu thọ giới sau tháng 7 thì hạ năm đó không được tính. Nhà Phật là tính theo tuổi hạ. Cấp bậc này chỉ có ở Việt Nam. Ở Trung Hoa, Hòa thượng là chỉ người xuất gia thôi. Khi mình gặp Hòa thượng Tịnh Không thì mình xưng là Lão Pháp-sư là đúng rồi. Về Việt Nam thì mình chuyển lại Lão Pháp-sư thành Hòa thượng để phù hợp với Việt Nam. # Tôn giả Kiều Trần Như, Kiều Trần Như là tiếng Ấn Độ, phiên dịch sang tiếng trung là Minh Liễu, là sáng tỏ. Ngài là người học trò đầu tiên được thành tựu khi đức Phật thuyết pháp. Năm anh em Kiều Trần Như là những người được vua Tịnh Phạn sai đi theo khi Thái-tử Sĩ Đạt Đa rời nhà đi tìm đạo, mục tiêu là tu hành và bảo vệ Thái-tử. Khi đức Phật thành đạo, ngoài Kinh Hoa Nghiêm thuyết trong định thì đức Phật thuyết bộ Kinh đầu tiên là Kinh Chuyển Pháp Luân, sau đó là Kinh Vô Ngã Tướng. Ngài Kiều Trần Như là người đầu tiên đắc được quả A-la-hán sau khi nghe bộ Kinh Vô Ngã Tướng. Ngài trong Kinh này được xếp tên ở vị trí thứ nhất, để đại biểu Kinh này là bộ Kinh bậc nhất trong tất cả các Kinh của Phật thuyết. Điều này được trùng tuyên lại ở phẩm 43 – Phi Thị Tiểu Thừa.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
Người cuối cùng được độ trước khi Phật nhập Niết Bàn là Tôn giả Tu Bạt Đà La. Việc này được nói trong Kinh Đại Bát Niết Bàn và một số bộ Kinh khác. Trước khi Thế Tôn nhập Niết Bàn tại rừng Sa La Song Thọ, có một người ngoại đạo Bà-la-môn, sống đến 120 tuổi, tên là Tu Bạt Đà La, học thông hết tất cả các Kinh Vệ Đà, nhưng ông vẫn chưa thấy phục lắm. Lúc đó ở Ấn Độ có rất nhiều giáo phải, ai cũng xưng là Nhất-thiết-trí. Ông nhận thấy chỉ có Thích Ca Mâu Ni Phật, tức Sa-môn Cồ Đàm là một điều tuyệt vời nhất. Cho nên ông tìm đến. Nhưng lúc đó Thế Tôn sắp nhập Niết Bàn nên không ai cho ông vô, ngài A Nan cản lại. Tu Bạt Đà La 3 lần khải thỉnh nhưng ngài A Nan vẫn không cho vào. Thích Ca Mâu Ni Phật bèn dùng cách truyền âm nói với A Nan cho ông ta vào. Sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, ông ta chứng Sơ-quả Tu-đà-hoàn, và xin Phật xuất gia. Đức Phật nói: “Thiện Lai Tỳ-kheo” thì ông ta thấy râu tóc đều rụng xuống. Lúc đó Phật thuyết thêm một bài Pháp nữa thì ông chứng quả A-la-hán. Ông liền nói với đức Phật: “Con không muốn thấy đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, con xin phép nhập Niết Bàn trước đức Thế Tôn”, và ông ta nhập Niết Bàn. Đó là vị Tỳ-kheo cuối cùng được đức Phật độ, Tôn giả Tu Bạt Đà La. Vị này không được nhắc đến trong Kinh này. Nhưng Kinh này cũng là bộ Kinh cuối cùng còn lại 100 năm sau khi Chánh-pháp diệt độ những người đệ tử cuối cùng của Phật. Cho nên Tôn giả Kiều Trần Như xếp ở vị trí đầu tiên đại biểu cho Kinh này là đệ nhất Kinh trong các Kinh mà Phật thuyết. # Tôn giả Xá Lợi Phất: tiếng Ấn ĐộXá Lợi có ý nghĩa là thân tướng tốt đẹp. Phất là con trai. Nghĩa là con trai của người có thân tướng tốt đẹp (tức là mẹ ngài có thân tướng tốt đẹp). Trong Bát Nhã Tâm Kinh gọi là Xá Lợi tử. Ngài là trí huệ đệ nhất trong hàng đệ tử của đức Phật. Ngài xếp ở vị trí thứ hai biểu thị là người có trí huệ đệ nhất mới có thể hiểu rõ bộ Kinh này. Cũng có nghĩa là tu theo bộ Kinh này quý vị sẽ được trí huệđệ nhất. Lời này Thiện Trang nói có căn cứ. Quý vị về Tây Phương Cực Lạc có được vô-lượng-quang, vô-lượng-thọ, vô-lượng-trí-huệ. Vừa về Tây Phương chúng ta được sự gia trì của Phật, có được trí huệ của Bát-địa Bồ-tát. # Tôn giả Đại Mục Kiền Liên:Mục Kiền Liên là Thái Thục. Thục là một loại đậu, nói rõ gia tộc của ngài nhiều thế hệ làm nghề nông nên dùng Thái Thục để làm họ. Thiện Trang chú giải thêm: Thái có nghĩa là hái. Thái Thục là hái đậu. Chữ Đại ở đây để phân biệt những người cùng họ. Thời đức Phật có nhiều ngài Mục Kiền Liên, nên có chữ Đại để phân biệt ngài là thần thông đệ nhất của đức Phật. Ngài là người đệ nhất có đầy đủ năng lực thần kỳ, thông đạt trong hàng đệ tử của đức Phật. Đây là đại biểu là nếu chúng ta học tập theo bộ Kinh này sẽ có được năng lực đặc biệt. Ngài Xá Lợi Phật và ngài Mục Kiền Liên là bạn thân với nhau. Trước khi xuất gia với đức Phật, 2 vị đã thống lĩnh hai giáo phái ngoại đạo. Họ bàn với nhau chia ra đi tìm người thông đạt hơn để tiếp tục học tập. Ngài Xá Lợi Phất tình cờ nghe được Tỳ-kheo Mã Thắng đọc bài kệ: “Chư pháp tùng duyên sanh, Diệc tùng nhân duyên diệt. Ngã Phật Ðại Sa Môn, Thường tác như thị thuyết.” Dịch nghĩa: Các pháp do duyên sanh Cũng do duyên mà diệt Thầy tôi là đức Phật Nói và làm như thế. Ngài Xá Lợi Phất ngộ ra, bèn chạy theo Tỳ-kheo Mã Thắng, dẫn theo toàn bộ giáo phái của ngài và cùng với ngài Mục Kiền Liên xuất gia với đức Phật. Ngài vô cùng biết ơn Tỳ-kheo Mã Thắng. Khi đi ngủ ngài luôn hỏi hiện nay ngài Mã Thắng ở đâu, và hướng về để cảm ơn.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
Quý vị nghe 2 câu kệ “Các pháp do duyên sanh, cũng do duyên mà diệt” thì sẽ không đau khổ. Tất cả đều do duyên, tất cả đều là vô thường. Ngài Mục Kiền Liên có thần thông, nhưng điều này cũng khiến cho ngài gặp nhiều rắc rối. Câu chuyện thứ nhất: Ở một vùng nọ, bị hán hán lâu dài, những người Bà-la-môn nói với dân làng hãy cúng dường cho họ để họ lập đàn cầu mưa. Những người dân ở đó vì tin tưởng vào Thích Ca Mâu Ni Phật và đệ tử của Ngài, họ bèn tới hỏi ngài Mục Kiền Liên là bao giờ có mưa. Ngài Mục Kiền Liên trả lời rằng 7 ngày sau sẽ mưa. Mục đích họ hỏi là dể gieo hạt giống. Nghe ngài Mục Kiền Liên nói vậy, họ liền đi gieo hạt giống. Kết quả là 7 ngày sau có mưa, nhưng mưa rất nhỏ, nên hạt giống đều khô cạn chết hết. Người dân rất đau xót nên mắng chửi ngài Mục Kiền Liên, rằng đệ tử đức Phật mà gạt người. Lục quần Tỳ-kheo đi ngang nghe thấy bèn hỏi sự tình. Lục quần Tỳ-kheo rõ sự việc rồi bèn về lập pháp yết-ma để kể tội ngài Mục Kiền Liên lường gạt người dân. Việc trình lên đức Phật, Ngài nói ngài Mục Kiền Liên không có lỗi. Chỉ vì ngài Mục Kiền Liên không quan sát việc người ta hỏi để gieo giống nên ngài gặp rắc rối như thế. Câu chuyện thứ hai: có một gia đình, người vợ đang mang bầu, họ rất mong có con trai. Theo bấm quẻ xem số của Bà-la-môn ngoại đạo thì sẽ là con gái. Lúc đó ngài Mục Kiền Liên đi ngang qua, người này bèn hỏi ngài là con trai hay con gái. Ngài Mục Kiền Liên trả lời là con trai. Gia đình người này rất vui mừng, vì họ nghĩ ngài Mục Kiền Liên không thể nói sai được. Đến khi người vợ sanh ra con gái, khiến họ rất tức giận. Họ nói bây giờ tin ngoại đạo tốt hơn, không tin đệ tử của đức Phật nữa. Thực ra ngài Mục Kiền Liên trả lời đúng. Lúc mang thai đúng là con trai, nhưng do nghiệp dị thục, tức trong bất tư nghì nghiệp có những nghiệp chuyển biến. Ngài Mục Kiền Liên thực ra biết trước sẽ sanh con gái, nhưng vì thời điểm ngài trả lời thì thai vẫn còn là con trai, cho nên ngài chánh trực mà trả lời. Chuyện truyền tới đức Phật. Đó là một trong những lý do đức Phật không cho phép đệ tử sử dụng thần thông. # Tôn giả Ca Diếp, tiếng Ấn Độ là Ca Diếp, dịch là Ẩm Quang. Ẩm là uống, quang là quang minh, là ánh sáng. Là tán thán quang minh của ngài vượt hơn người khác, nên ánh sáng của những người khác không thấy được. Ngài xuất thân trong gia đình đại phú đại quý. Ngài là khổ hạnh đệ nhất trong hàng đệ tử của Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài là Sơ-tổ của Thiền-tông. Quý vị biết công án “Niêm hoa vi tiếu”, Thiền-tông được truyền cho ngài Ca Diếp, ngài Ca Diếp truyền cho ngài A Nan, ngài A Nan truyền cho ngài Thương Na Hòa Tu, ngài Thương Na Hòa Tu truyền cho ngài Ưu Ba Cúc Đa… đến Tổ thứ 27 là ngài Bát Nhã Đa La, và Tổ 28 là Bồ Đề Đạt Ma. Ở trong đây đại biểu niệm A Di Đà Phật là công phu thiền định tối cao. Những vị tôn giả là đứng ở những vị trí đó là đều có ý nghĩa. Ngoài ra ngài Ca Diếp còn có hạnh đầu-đà đệ nhất, ví dụ ngài thường ngủ ở nghĩa địa, hay ở ngoài đồng trống, buổi chiều không uống nước. Chỉ ăn cơm uống nước buổi sáng thôi. Đó là ý đại biểu cho tu hạnh phải chịu khổ. Thiện Trang thấy chùa nào tu Tịnh-độ cũng đều thịnh, chứng tỏ được sự gia trì.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
# Tôn giả A Nan: tiếng Ấn Độ là A Nan, dịch là Khánh Hỷ. Khánh Hỷ chính là khánh chúc hoan hỷ. Bởi vì khi tin vui Phật thành đạo đến gia đình của ngài, đúng lúc ngài được sanh ra, cho nên dùng Khánh Hỷ làm tên. Ngài là em họ của Phật. Sau xuất gia làm Thị giả cho Phật. Ngài là đa văn đệ nhất (tức là thích học rộng nghe nhiều, quảng học đa văn). Ở trong đây ngài đại biểu cho Giáo hạ. Ở Trung quốc có 10 Tông phái: Thiền-tông, Mật-tông, Tịnh-độ-tông, Pháp-hoa-tông, Hoa-nghiêm-tông, Tam-luận-tông (Sơ-tổ Trung Hoa là ngài Cưu Ma La Thập), Duy-thức-tông (Sơ-tổ Trung Hoa là ngài Huyền Trang), Luật-tông (Sơ-tổ Trung Hoa là ngài Đạo Tuyên), Câu-xá-tông và Thành-thật-tông. Trừ Thiền-tông ra, 9 tông phái còn lại gọi chung là Giáo hạ. Giáo là giáo pháp, hạ là hạ thủ công phu. Nghĩa là hạ thủ công phu trên giáo Pháp. Ví dụ như chúng ta là Tịnh-độ-tông thì phải học. Còn Thiền-tông dùng một câu “Bất lập văn tự Giáo ngoại biệt truyền Trực chỉ nhân tâm Kiến tánh thành Phật” Cho nên quý vị thấy Lục tổ Huệ Năng có học gì đâu. Rồi có rất nhiều công án thiền, như tổ Lâm Tế, một trong ngũ gia tông phái Thiền-tông, ngài có chiêu: la hét, lấy gậy đánh, chỉ cần vậy thôi người ta ngộ được, chứng đạo được. Cho nên Thiền-tông đặc biệt xếp riêng. Còn các giáo phải khác đều phải tiệm tu, tức là học từ từ. Chúng ta hiện nay là Tịnh-độ-tông cũng là tiệm tu. Cũng là học từ từ, dần dần. Thâm lý, tức là hiểu lý thì tin sâu. Tin sâu thì hành chuyên. Tịnh-độ-tông chúng ta là tín, hạnh, nguyện. Mà quan trọng là Tín, muốn tín thì phải học. Chỉ có mỗi Hòa thượng Hải Hiền thôi, còn chúng ta học bao nhiêu năm nay mà chữ Tín vẫn bị lung lay. Gió nhè nhẹ thôi mà cây đã rung rồi. Như vậy ngài A Nan đại biểu cho Giáo-hạ, tức là các tông phái còn lại. Trong 10 đại đệ tử của đức Phật mỗi người có một hạnh. Ngài Mục Kiền Liên là thần thông đệ nhất. Ngài Xá Lợi Phất là trí huệ đệ nhất. Ngài A Nan là đa văn đệ nhất. Ngài Tu Bồ Đề là giải không đệ nhất. Ngài Ca Chiên Diên là luận nghị đệ nhất. Ngài Ma Ha Ca Diếp là hạnh đầu đà đệ nhất. Đó là bên Tăng, bên Ni cũng có 10 đại đệ tử như vậy. Ngài A Nan biểu thị, quý vị học bộ Kinh này cũng thông được các giáo, đạt được đa văn đệ nhất như ngài A Nan. Một Kinh thông là tất cả Kinh thông. Chúng ta học Kinh Vô Lượng Thọ, niệm A Di Đà Phật thì chúng ta cũng được đa văn đệ nhất như ngài A Nan. Ngài A Nan cũng là Nhị-tổ của Thiền-tông. Ngài biểu thị cho cả Thiền, Giáo và Tịnh. Một câu A Di Đà Phật cũng là Mật-tông, cũng là niệm chú, cũng có thần thông như ngài Mục Kiền Liên, cũng được thiền định như ngài Ma Ha Ca Diếp. Cho nên chỉ đọc đoạn này thôi là chúng ta đã hiểu được bộ Kinh rồi. Còn ai căn tánh thượng thượng thừa thì chỉ đọc như thị thôi đã thông suốt hết rồi. # đẳng: có nghĩa là v.v…, còn nhiều nữa. Hòa thượng chú giải: chỉ đang ngồi thượng thủ còn nhiều vị khác nữa. Nghĩa là trong Pháp hội đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang thuyết, ngồi ở hàng đầu không chỉ có mấy người đó, mà còn rất nhiều người nữa. # nhi vi thượng thủ: mà làm thượng thủ, là những bậc ngồi ở trên đầu. Hòa thượng chú giải là chỗ ngồi ở trên cũng chính là vị trí cao nhất trong hàng thính chúng. Theo luật nhà Phật là người nào có tuổi hạ cao, thì người đó sẽ ngồi ở trên. Như vậy là những bậc tôn kính ngồi ở trên, còn nhiều người nữa, không phải chỉ có 5 vị này. 5 vị này là biểu thị cho tất cả rồi. Trong nguyên bản kể ra rất nhiều vị, có bộ kể ra ba mươi mấy tên, có bộ kể ra mười mấy tên. Người vừa lớn về đức hạnh, vừa lớn về tuổi hạ gọi là Trưởng lão. Tạm dịch: Tên các ngài là: Tôn giả Kiều Trần Như, Tôn giả Xá Lợi Phất, Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, Tôn giả Ca Diếp, Tôn giả A Nan v.v… là những bậc thượng thủ. Hòa Thượng chú giải: Tên của các ngài ấy là: Trưởng lão Kiều Trần Như tôn kính, ngài đại biểu Kinh này là Pháp môn đệ nhất. Trưởng lão Xá Lợi Phất tôn kính, ngài đại biểu Kinh này là trí huệ đệ nhất. Trưởng lão Đại Mục Kiền Liên tôn kính, ngài đại biểu Kinh này là thông đạt thần kỳ đệ nhất. Trưởng lão Ma Ha Ca Diếp tôn kính, ngài đại biểu cho Thiền-tông. Trưởng lão A Nan tôn kính, ngài đại biểu ngoài Thiền-tông là Giáo hạ. Như vậy Pháp môn này là đệ nhất, tu theo bộ Kinh này là trí huệ đệ nhất, thần thông đệ nhất, thiền định cao nhất, ngoài ra được thông suốt hết tất cả các Kinh điển. Cho nên một Kinh này là đủ rồi. Ngay phẩm 1 này đã nói lên điều đó rồi. Quý vị chỉ cần nghe đoạn này thôi đã tinh tấn hơn rồi. Chỉ cần học một đoạn thôi là thông hết các đoạn còn lại. Một môn thâm nhập trường kỳ huân tu. Nhất hạnh đây gọi là nhất hạnh tam-muội. Niệm Phật là thiền định tối cao.
Hang Nguyen- NAMO AMITABHA10 Months ago
Đoạn thứ ba: Kinh văn: 又有普賢菩薩,文殊師利菩薩,彌勒菩薩, Hựu hữu Phổ Hiền Bồ-tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát, Di Lặc Bồ-tát, 及賢劫中一切菩薩,皆來集會。 cập Hiền kiếp trung nhất thiết Bồ-tát, giai lai tập hội. Giải: # Hựu hữu Phổ Hiền Bồ-tát: Hòa thượng chú giải: Phổ là biến nhất thiết xứ, là khắp ở mọi nơi. Hiền là tối diệu, tối thiện (vi diệu nhất, thiện nhất). Tâm, nguyện, hạnh, thân, khẩu ý của Bồ Tát không có một chút bất bình đẳng, vả lại phổ biến rộng khắp, chân thành, thuần nhất, diệu thiện đối với tất cả người, sự, vật. Cho nên xưng hiệu là Phổ Hiền. Bồ-tát là người hiểu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Ngài Huyền Trang dịch là Bồ-đề Tát-đỏa. Phổ Hiền Bồ Tát biểu thị cho Mật - Tịnh bất nhị (tức là Mật-tông và Tịnh-tông là không hai). Ngài là Kim Cang Tát Đỏa. Khoảng 600 năm sau khi Phật nhập Niết Bàn, xuất hiện Bồ Tát Long Thọ. Trong Kinh Nhập Lăng Già, đức Phật huyền ký là 600 năm sau khi ta nhập Niết Bàn sẽ có một vị Bồ Tát tên là Long Thọ, chứng đến Hoan-hỷ-địa, tức là Sơ-địa, sẽ tiếp tục lưu truyền giáo pháp của ta. Ngài Long Thọ tìm thấy một cái rương. Mở ra trong đó có một tượng Kim Cang Tát Đỏa, và những bộ Kinh truyền về Mật-tông. Từ đó mới có một số Kinh Mật-tông lưu truyền tại Ấn Độ như Kinh Thắng Man. Mật-tông đương nhiên có từ thời đức Phật, nhưng 600 năm sau mới được truyền rộng rãi. Ngài Phổ Hiền chính có hóa thân làKim Cang Tát Đỏa Bồ Tát. Ngài Phổ Hiền như vậy là Sơ-tổ, truyền cho ngài Long Thọ. Ngài Long Thọ là Tổ sư của 8 tông phái. Phổ Hiền Bồ Tát biểu thị cho Mật Tịnh bất nhị. Có nghĩa là niệm Phật cũng là nơi quay về của những người tu Mật-tông. Ở Tây Tạng có rất nhiều giáo phái Mật-tông đều quy hướng về Tây Phương Cực Lạc, niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc. Ngoài ra cũng là ý nói, chúng ta tu theo bộ Kinh này, chúng ta cũng có thần thông. Có người làm chứng rồi đó, cô Lưu Tố Vân. Hoàn toàn là có thể được. # Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát, dịch sang tiếng Trung là Diệu Kiết Tường, tức là vi diệu, kiết tường, minh tâm kiến tánh. Trong chúng Bồ-tát ngài đại biểu trí huệ đệ nhất. Biểu thị chân lý sự thật mà bộ Kinh này đã nói, thì chính là người có đại trí huệ. Ở bên trên ngài Xá Lợi Phất biểu thị cho trí hệ đệ nhất của hàng Thanh-văn. Còn ở đây Văn Thù Bồ Tát đại biểu cho hàng Bồ-tát. Nghĩa là ai có thể tin tưởng hiểu được chân tương sự thật trong Kinh này nói, chính là người có trí huệ đệ nhất. Ngài ở trong Kinh này đại biểu Thiền - Tịnh bất nhị. Tương truyền ngài Văn Thù Sư Lợi có hóa thân làm Sơ-tổ của Hoa-nghiêm-tông. Sơ-tổ của Hoa-nghiêm-tông Trung Hoa là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù, ngài Đỗ Thuận. Có nghĩa là trong đây cũng có Hoa Nghiêm, có thể nói như vậy.